Nhận thức về việc cuộc chiến mà ở đó một quốc gia chiếm khoảng 3% tổng nhu cầu toàn cầu với sản lượng xuất khẩu 1,9 triệu thùng/ngày và chiếm 12% trữ lượng thế giới yêu cầu thanh toán bằng đồng Nhân dân tệ (yuan/renminbi) với các hợp đồng mua dầu cũng như các khoản “phí” để thông quan tại Hormuz dường như khiến người ta bàn tán sôi nổi hơn về “ngày tàn đang bắt đầu” của hệ thống petrodollar. Bởi lẽ, việc chuyển sang thanh toán bằng đồng NDT sẽ được chấp nhận, ít có rủi ro hơn và quan trọng là sẽ dần định hình thói quen cho các quốc gia tham gia thương mại, từ đó thay đổi cán cân quyền lực thanh toán toàn cầu giữa đồng USD và NDT. Nhưng trái với lập luận rằng quyền lực thanh toán sẽ tất yếu dẫn đến quyền lực định giá và quyền lực thanh toán kết hợp với quyền lực định giá sẽ dẫn đến quyền lực dự trữ, tôi cho rằng cuộc chiến tại Iran sẽ chỉ càng củng cố thêm vị thế thống trị của loại hình petrodollar.

A. Cuộc chiến có thể thay thế vị trí đồng tiền định giá và đồng tiền thanh toán của USD không? 

Đầu tiên cần làm rõ rằng, petrodollar hay petroyuan chỉ là khái niệm dùng để chỉ việc thanh toán hoạt động mua bán dầu mỏ bằng đồng USD hay NDT, nó không bao gồm việc mua bán các loại hàng hoá khác và cũng không phải một dạng tiền tệ.

Việc lựa chọn đồng NDT để thanh toán dầu mỏ đã diễn ra giữa Trung Quốc và một số quốc gia Trung Đông – đặc biệt là UAE và Arab Saudi - nhưng điều này cũng không thay đổi việc chủ yếu dùng USD để thanh toán dầu mỏ. Với việc xem xét tính thanh khoản, chi phí, lý thuyết liên minh quân sự và liên minh tiền tệ, cũng như hạn chế của hệ thống tài chính Trung Quốc, tôi muốn thảo luận về tương lai của petroyuan trong tương quan với petrodollar.

vi-sao-cuoc-chien-lam-petrodollar-them-ben-vung-1774949391.jpg

1. Tính thanh khoản

- Độ lớn của các giao dịch cho biết tỷ trọng sử dụng trong thanh toán xuyên biên giới của một đồng tiền quốc tế. Một giả định quan trọng là việc thay đổi từ USD sang thanh toán dầu mỏ bằng NDT sẽ làm giảm “đáng kể” tỷ trọng của USD trong thanh toán dầu mỏ nói riêng và thanh toán thương mại toàn cầu nói chung. Điều này liệu có đúng không?

Để làm rõ điều này, có hai điều cần trả lời. Một là, nếu chỉ một mình Trung Quốc làm như vậy, và phải làm được với 100% giao dịch dầu từ Trung Đông, thì sự thay đổi là khoảng bao nhiêu. Hai là, nếu tất cả các nước làm điều tương tự như Trung Quốc thì sự thay đổi là bao nhiêu? 

Về mặt sản lượng nhập khẩu. Nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục vào năm 2025 ở mức 11,55 triệu thùng mỗi ngày. Hơn 55% lượng nhập khẩu đến từ Trung Đông. Trong đó, Arab Saudi (14,9%), Iran (13%), Iraq (11,2%), UAE (6,4%), Oman (6,1%), Kuwait (3,3%) và Qatar (1,3%). Ngoại trừ Oman, phần lớn lượng dầu này phải được vận chuyển qua eo biển Hormuz. 

Một ước tính tôi đọc được trên Financial Times vào quãng 2023 – khi Nga bị trừng phạt loại bỏ khỏi việc sử dụng SWIFT và làm dấy lên các thảo luận về dùng NDT mua dầu thay cho USD – cho biết rằng trong trường hợp thanh toán 100% dầu nhập khẩu dầu từ Trung Đông, con số này cũng chỉ thay thế khoảng 7% tổng nhu cầu về USD trong thanh toán dầu mỏ. Nếu tất cả các nước nhập khẩu dầu từ Trung Đông đều làm giống Trung Quốc con số này sẽ ở mức khoảng 23% - 35%. Quan trọng nhất là, đây là một giả định cực đoan chứ không phải một giả định về tiềm năng.

Cũng cần lưu ý rằng mức nhu cầu về USD này mới chỉ là trong lĩnh vực thanh toán cho dầu mỏ. Điều đó hàm ý rằng mức độ suy giảm về việc dùng USD trong thanh toán thương mại toàn cầu sẽ thấp hơn con số trên rất nhiều. Số liệu tại báo cáo RMB Tracker của SWIFT tháng 1/2026 cho thấy đồng USD vẫn chiếm tỷ trọng cực lớn trong thanh toán xuyên biên giới (với 50,49%), tiếp theo là EUR (21,9%), GBP (6,73%) và các đồng tiền khác. 

- Hệ thống cơ sở hạ tầng tài chính phức tạp tạo ra lợi thế điểm nghẽn (chokepoint) cho Mỹ. Một điểm các lập luận “đánh đổ từ từ petrodollar” hay bỏ qua đó là hiệu ứng “membership” của tính thanh khoản. Nếu một đồng tiền càng được sử dụng nhiều thì các thể chế được thiết kế xung quanh nó càng nhiều dẫn đến chi phí để sử dụng một hệ thống khác sẽ ngày càng cao.

Trung Anh trong một thảo luận vô cùng mẫu mực và giàu tính hàn lâm về “tính thanh khoản” của USD đã chỉ ra nguyên nhân về tính thanh khoản cực lớn của đồng USD một phần đến từ sự phức tạp của các nền tảng, mạng lưới, hệ thống thanh toán xuyên biên giới - vốn đa tầng và đa dạng thành phần tham gia. Đa số mọi người chỉ biết đến các nhà cung cấp dịch vụ như các ngân hàng, ví điện tử mà chưa thể hình dung ra cấu trúc phức tạp đằng sau. Bài viết này sẽ điểm qua một số yếu tố để làm rõ hơn, qua đó phân tích lý do tại sao nhiều nỗ lực thanh toán bằng đồng bản tệ chưa đạt được nhiều kết quả như kỳ vọng.

Thanh toán xuyên biên giới có thể chia thành hai nhóm: (i) các chủ thể tuyến trước tương tác trực tiếp với khách hàng (ngân hàng, ví điện tử, các tổ chức cung ứng dịch vụ chuyển tiền, bưu điện...); (ii) các chủ thể tuyến sau đảm nhận các vai trò xử lý tin điện thanh toán, bù trừ, quyết toán...) như các hệ thống thanh toán bán buôn (RTGS), hệ thống thanh toán nhanh (FPS), các tổ chức cung ứng ngoại hối (FX provider), các mạng lưới thẻ quốc tế (card network).

Trong đó, sự phức tạp nằm ở cấu trúc vận hành đa tầng, nhiều lớp của các chủ thể tuyến sau.
Quy trình thanh toán xuyên biên giới (mô tả giản lược) bắt nguồn từ việc các chủ thể tuyến trước nhận yêu cầu thanh toán từ khách hàng gửi và truyền tin điện (message) chứa các thông tin cần thiết về hướng dẫn thanh toán thông qua hệ thống xử lý tin điện SWIFT đến chủ thể tuyến trước của khách hàng nhận. Sau khi nhận được tin điện thì chủ thể này sẽ hạch toán cho khách hàng nhận. Mặc dù vậy, khâu quyết toán (settlement) được thực hiện thông qua mạng lưới ngân hàng đại lý (correspondent banks) chằng chịt ở nhiều quốc gia khác nhau (ví dụ Việt Nam -> Pháp, Pháp -> Algeria). Ở mỗi quan hệ đại lý đó, các ngân hàng đối tác hạch toán từng phần của giao dịch thông qua hệ thống tài khoản Nostro/Vostro (thông thường sử dụng tài khoản USD).

Cần hiểu rõ là SWIFT chỉ là một hệ thống tin nhắn tài chính chứ không phải trung tâm thanh toán bù trừ. Nó không có chức năng của ngân hàng, còn CIPS thì có. Với vai trò là cơ sở hạ tầng tài chính cho thanh toán xuyên biên giới. SWIFT là hệ thống có tính tối ưu hơn hẳn CIPS.

Thứ nhất, số lượng áp đảo của SWIFT. CIPS tổ chức theo các nguyên tắc tương tự như Hệ thống Thanh toán liên ngân hàng của Trung tâm Thanh toán bù trừ Mỹ (Clearing House Interbank Payments System - CHIPS). Các tổ chức tài chính được chia thành những người tham gia trực tiếp, duy trì một tài khoản với hệ thống và những người tham gia gián tiếp, những người giao dịch với hệ thống thông qua những người tham gia trực tiếp. Theo số liệu do PBoC cung cấp, tính đến tháng 6/2025, CIPS có 176 đơn vị tham gia trực tiếp và 1.514 đơn vị tham gia gián tiếp. Trong khi đó, năm 2020, hơn 11.000 tổ chức, đặt tại hơn 200 quốc gia, đã được kết nối với SWIFT. 

Thứ hai, quy mô khổng lồ của SWIFT. Với quy giao dịch hàng ngày khoảng 91 tỷ USD, khối lượng thanh toán của CIPS vẫn còn nhỏ bé so với khối lượng thanh toán 1.900 tỷ USD thanh toán trong nước và quốc tế được Hệ thống Thanh toán liên ngân hàng của Trung tâm Thanh toán bù trừ Mỹ (Clearing House Interbank Payments System - CHIPS) xử lý mỗi ngày hiện nay - con số này chỉ tương đương với gần 5% tổng giá trị thanh toán của CHIPS. Theo số liệu PBoC cung cấp vào cuối năm 2023, 123.000 tỷ NDT (17.000 tỷ USD) đã được CIPS xử lý tại 119 quốc gia. Nhưng con số. ày chiếm chưa đầy 2,5% giá trị mà CHIPS xử lý.

Thứ ba, SWIFT là mẫu mực về tiêu chuẩn toàn cầu. Ưu thế vượt trội của SWIFT so với các hệ thống thanh toán thay thế khác cho đến hiện nay là nó xây dựng được một mạng lưới an toàn để truyền tải tin nhắn giữa các tổ chức tài chính và phát triển được các bộ tiêu chuẩn cú pháp cho tin nhắn tài chính. Ví dụ, ISO 9362, ISO 10383, ISO 13616 và ISO 20022. Các định dạng này hiện là những tiêu chuẩn có ảnh hưởng và được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành tài chính. Tương tự như SPFS của Nga, CIPS sử dụng tiêu chuẩn ngành SWIFT về cú pháp trong các thông điệp tài chính. Đơn vị tham gia trực tiếp có thể nhắn tin cho nhau thông qua SWIFT hoặc thông qua hệ thống nhắn tin riêng của CIPS. Trong khi những đơn vị tham gia gián tiếp có thể nhận được các dịch vụ do CIPS cung cấp thông qua những đơn vị tham gia trực tiếp. Ước tính 80% các khoản thanh toán thông qua CIPS hiện nay vẫn sử dụng tin nhắn SWIFT. Hạn chế của CIPS hiện nay là nhiều tổ chức không phải của Trung Quốc chưa cài đặt trình biên dịch cho tin nhắn CIPS. Thậm chí ngay cả SWIFT cũng phải cải cách để hỗ trợ tin nhắn bằng tiếng Trung. 

Thứ tư, SWIFT hỗ trợ thanh toán mọi loại tiền tệ quốc tế. Cho đến nay CIPS chỉ hỗ trợ thanh toán cho đồng NDT trong khi SWIFT thanh toán cho một rổ tiền tệ chủ yếu của thế giới nên tính linh hoạt cao hơn rất nhiều. Có một điểm cần lưu ý rằng, lập luận việc sử dụng hệ thống CIPS sẽ tăng trưởng theo thời gian và dần dần đuổi kịp SWIFT không diễn ra theo cách tuyến tính như vậy. Phần lớn (75%) trong số đối tác trực tiếp và 1.500 đối tác gián tiếp hiện nay là các ngân hàng hoặc định chế Trung Quốc và tốc độ tăng trưởng giao dịch 50%/năm chỉ xuất hiện khi quy mô giao dịch còn ở mức rất thấp. Khi quy mô giao dịch tăng lên thì mức tăng trưởng duy trì ở con số nêu trên gần như sẽ bất khả thi. 

2. Chi phí giao dịch

Giống như việc người ta nhận ra rằng tàu dầu không đi qua eo Hormuz (kể cả khi Iran tuyên bố không tấn công chúng) không chỉ do niềm tin vào các tuyên bố của hai bên tham chiến mà còn (chủ yếu) do các hãng bảo hiểm đòi mức chi phí bảo hiểm quá cao đối với mỗi tàu chở dầu trong thời điểm này. Việc thanh toán bằng NDT không chỉ vướng phải vấn đề thanh khoản, mà còn vướng phải yếu tố quan trọng là chi phí giao dịch – tổng chi phí để một giao dịch có thể tiến hành từ A-Z - ở mức cao hơn rất nhiều nếu dùng đồng USD.

- Tỷ giá. Bạn sẽ thanh toán bằng đồng tiền có tỷ giá ổn định hay tỷ giá không ổn định? Nhưng ngay cả khi chưa đi sâu xem xét ký lưỡng điều này, quan trọng hơn, tôi nghĩ rằng đa số những lập luận về dùng NDT thanh toán dầu cho USD đều bỏ qua một thực tế chí mạng rằng thanh toán NDT bằng dầu mỏ sẽ làm sụt giảm thu nhập thực tế của tất cả các nước bán dầu ở Trung Đông. Tại sao vậy? Nhìn vào số liệu thương mại dầu mỏ, có thể thấy các nước như UAE đang thu về 22 tỷ USD (tức khoảng 154 tỷ NDT) từ dầu mỏ mỗi năm, những nước như Arab Saudi thu về từ 20-40 tỷ USD thặng dư thương mại với Trung Quốc. Nhưng gần như tất cả các quốc gia này (UAE, Arab Saudi, Oman, Qatar) đều duy trì chính sách tỷ giá NEO với đồng USD. Tỷ giá các đồng bản tệ của họ đã không thay đổi (có thể là từ những năm 1970s hoặc 1980s). Với việc đồng USD mạnh lên liên tục so với đồng NDT, việc cố định giá bán theo đồng NDT cho các khoảng giao dịch sẽ làm giảm thu nhập thực tế của các nước này. Còn việc quy đổi tỷ giá NDT theo USD và trả theo tỷ giá thời gian thực (real time) cho các hợp đồng mua bán sẽ khiến mọi việc phức tạp hơn và thực tế không có nhiều ý nghĩa.

- Chi phí sử dụng cơ sở hạ tầng tài chính phi-SWIFT. Một chi phí quan trọng của hệ thống thanh toán xuyên biên giới, đó là chi phí sử dụng. Với CIPS, chi phí này đang rất cao. Các ngân hàng Nga được cho là đã đầu tư vào các đường dây điện thoại an toàn “với chi phí hàng chục nghìn NDT mỗi tháng” để gửi hướng dẫn thanh toán cho các ngân hàng Trung Quốc.

- Chi phí ma sát: Bảo hiểm tỷ giá và bảo lãnh chính trị. Một hợp đồng thanh toán bằng đồng NDT luôn bị áp phí bảo hiểm cao hơn hợp đồng bằng USD do các tính toán về tỷ giá và mức độ thanh khoản cao mà đồng USD có được.

- Tài sản đảm bảo (tại sao tôi lại phải dự trữ NDT)? Việc dự trữ đồng NDT sau khi bán dầu sẽ gặp phải bốn thách thức lớn. 

Thứ nhất, để các đối tác nước ngoài đó sẵn sàng chấp nhận thanh toán bằng loại tiền đó thì họ phải tin tưởng rằng đồng tiền ấy sẽ giữ nguyên giá trị hoặc có giá trị ổn định. 

Thứ hai, người nhận có thể sử dụng các khoản thu ngoại tệ vào các hoạt động giao dịch với các đối tác khác (cái này là tính thanh khoản). 

Thứ ba, đồng tiền này cũng phải có khả năng giao dịch với chi phí hợp lý. Trung Quốc đang nỗ lực vượt qua các thách thức này bằng việc thuyết phục các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ chủ chốt, đặc biệt là Arab Saudi – quốc gia đã vượt qua Nga trở thành nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Trung Quốc vào năm 2021 – chấp nhận thanh toán bằng đồng NDT trong giao dịch dầu mỏ. Do toàn bộ doanh thu từ dầu mỏ đều được gửi tại Ngân hàng Trung ương Saudi Arabia (SAMA), nên nhiều khả năng nguồn thu từ bán dầu bằng đồng NDT (nếu có) sẽ được đầu tư vào trái phiếu chính phủ Trung Quốc. Saudi Arabia có dự trữ ngoại hối dồi dào (416 tỷ USD) và dự kiến sẽ tăng lên do giá dầu cao, nhưng để không ảnh hưởng đáng kể đến tỷ giá cố định giữa đồng Riyal và đồng USD là 3,75 SAR đổi 1 USD đã được áp dụng từ tháng 6/1986, Arab Saudi có thể chỉ phân bổ 1-2% dự trữ của vương quốc này cho đồng NDT. Điều này cho thấy nhiều đối tác kinh tế có thặng dư thương mại với Bắc Kinh nhận hiện nay không thấy cần thiết phải sử dụng các khoản thu tính bằng đơn vị này. 

Thứ tư, và quan trọng nhất, Trung Quốc không duy trì chế độ tự do hoá đối với tài khoản vốn – tức là ngoại tệ không được tự do ra vào thị trường trong nước – dẫn đến khó khăn về nhu cầu nắm giữ NDT khi không ai dám chắc mình có thể rút tối đa bao nhiêu từ hệ thống tài chính đặt tại Bắc Kinh. 

B. Để trở thành đồng tiền dự trữ, NDT có khó khăn gì?

Ở đây, tôi tạm liệt kê ba thách thức cốt lõi của việc biến đồng NDT trở thành đồng tiền dự trữ toàn cầu bất chấp việc ông Tập Cận Binh đã thúc giục Trung Quốc cần có “một đồng tiền quốc tế mạnh”.

- Tài khoản vốn không tự do.

- Kiểm soát vốn ngày càng chặt hơn sau năm 2022. Các nhà chức trách Trung Quốc đã tăng cường can thiệp điều tiết để quản lý dòng vốn chảy ra và ổn định thị trường trong nước. PBoC và Cục Quản lý Ngoại hối Nhà nước (SAFE) gần đây đã thắt chặt giám sát vốn chảy ra nước ngoài, đặc biệt là việc xem xét kỹ lưỡng các giao dịch bán cổ phần ở nước ngoài và chuyển khoản xuyên biên giới liên quan đến Hồng Kông, nhằm ngăn chặn tình trạng chảy vốn ra nước ngoài. PBoC cũng đã khôi phục yêu cầu dự trữ rủi ro ngoại hối 20% đối với các giao dịch kỳ hạn để ngăn chặn hoạt động đầu cơ và giảm áp lực lên đồng NDT– một phần của loạt biện pháp kiểm soát tiền tệ rộng hơn dường như đã được triển khai trong phần lớn năm ngoái

- Chưa có dấu hiệu sẽ trở thành quốc gia nhập siêu thương mại toàn cầu. Một con đường cơ bản để một quốc gia có NDT đó là nó phải xuất siêu sang Trung Quốc. Nếu liên tục xuất siêu, Trung Quốc không thể hy vọng vừa bán hàng hoá lại vừa “bán” tiền bản tệ cho các quốc gia bên ngoài.
C. Vì sao cuộc chiến làm petrodollar có thể bền vững hơn?

- Các liên minh quân sự luôn gia cố việc sử dụng đồng tiền của nhau. Tôi đã viết một post về việc này nhưng không viết lại vào đây vì sợ dài. 

- Trong ngắn hạn và trung hạn, các công ty Mỹ có thể mở rộng hoạt động xuất khẩu dầu và khí LNG. Điều này sẽ khiến việc thanh toán bằng đồng USD càng thêm phổ biến và có thể trung hoà hoặc lấn át việc thanh toán bằng đồng NDT để mua dầu của các nước khác.

Nguồn: Phạm Sỹ Thành