1. Từ khái niệm kinh tế học ai làm quản lý cũng phải hiểu
Thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào hai điều: Thiết kế ra một sản phẩm hạng nhất rồi sản xuất nó với chất lượng cao và chi phí hợp lý. Năm 1908, Henry Ford đã xây dựng một nguyên mẫu xe hạng nhỏ, nhẹ và chắc, được đặt tên là Model T với sự trợ giúp của một sáng chế mới: Thép va-na-đi, loại thép chắc hơn 3 lần so với thép thông thường. Nhiệm vụ tiếp theo của ông là sản xuất Model T nhanh hơn và rẻ hơn.
Chúng ta hãy chú ý đến thành công đáng kinh ngạc của Henry Ford trong việc giảm số phút cần thiết để lắp ráp một chiếc xe – từ 12,5 giờ xuống còn 90 phút – và do đó tăng sản phẩm cận biên và sản phẩm trung bình của lao động lên cao.
Cần phải nói thêm khái niệm sản phẩm cận biên được sử dụng khi định lượng giá trị của lượng lao động và máy móc tăng thêm so với chi phí của chúng. Khái niệm này trả lời cho câu hỏi: Một giờ tăng thêm của lao động và máy móc đóng góp bao nhiêu cho sản lượng hàng hóa và dịch vụ của công ty?
Khi Ford mới bắt đầu tìm cách sản xuất ô tô nhanh hơn và rẻ hơn, chúng được lắp ráp tại một địa điểm với hàng đống linh kiện và cần 728 giờ. Trong thời kỳ đổi mới ban đầu của Ford, khung gầm (thân xe) của chiếc Model T được một chiếc tời k.é.o 76m dọc theo sàn nhà máy. Các công nhân đuổi theo nó, nhặt các bộ phận được đặt cẩn thận dọc theo 76m đó và lắp chúng vào thân xe.
Đây là dây chuyền lắp ráp đầu tiên. Nó làm giảm thời gian lắp ráp một chiếc xe đi một nửa, từ 12,5 giờ xuống 5,5 giờ. Một dây chuyền dài hơn với nhiều công nhân chuyên môn hóa hơn tiếp tục c.ắ.t thời gian lắp ráp đi một nửa nữa. Sau đó, một băng tải tự động đầu tiên dựa trên hệ thống xe đ.ẩ.y dùng để chuyển th.ịt b.ò trong các nhà máy đóng gói th.ịt ở Chicago đã được xây dựng và thời gian lắp ráp tiếp tục giảm đi một nửa một lần nữa, còn 93 phút.
Năm 1910, Model T có gi.á 780 đô-la; 4 năm sau, nó có gi.á chưa đến một nửa là 360 đô-la và d.oanh th.u hằng năm của Ford vượt qua con số 100 triệu đô-la. Nhà máy của Ford hoạt động ngày càng năng suất hơn – nơi đã từng m.ấ.t 12,5 giờ để làm một chiếc xe, Ford đã giảm thời gian đó xuống còn 1 phút và cuối cùng là 10 giây.
Những cải tiến vượt bậc trong chi phí và năng suất này đã giúp ông có thể gi.ả.m gi.á mạnh cho Model T, tăng lương (thực tế là gấp đôi), giảm số giờ làm việc trong ngày cho công nhân từ 10 giờ xuống còn 8 giờ mà vẫn bỏ túi khoản l.ợ.i nh.uậ.n khổng lồ.
"Cách sản xuất ô tô" ông chia sẻ vào năm 1903 "là làm chiếc ô tô này giống chiếc ô tô khác; cũng giống như chiếc đ.i.nh gh.i.m này giống chiếc đ.i.nh gh.i.m khác…"
2. Chuyện về công nhân sản xuất đ.i.nh gh.i.m năm 1776
Chuyện về những chiếc đ.i.nh gh.i.m mà Henry Ford nhắc đến đã được nhà kinh tế học Adam Smith viết ngay trong chương đầu tiên trong cuốn sách nổi tiếng của ông, Wealth of Nations (tạm dịch: Sự thịnh vượng của các quốc gia - 1776). Ông miêu tả chi tiết về một nhà máy đ.i.nh gh.i.m, trong đó "mỗi người có thể được coi như đã làm 4.800 chiếc đ.i.nh gh.i.m một ngày".
Nhà máy đ.i.nh gh.i.m là ví dụ đầu tiên trong kinh tế học về thứ mà Adam Smith gọi là "sự phân công lao động" – tăng năng suất bằng cách chia các công việc lớn thành những công việc nhỏ hơn và giao từng công việc nhỏ này cho một công nhân. Khi công nhân làm công việc đó ngày càng tốt hơn, họ sẽ làm dần tốn ít thời gian hơn và do đó, ch.i ph.í trên mỗi đơn vị hoặc công việc sẽ giảm.
Smith đã giải thích tại sao các công nhân lại có năng suất như vậy. Để làm ra một chiếc đ.i.nh gh.i.m, cần thực hiện 18 hoạt động riêng biệt và chúng được giao cho 18 công nhân khác nhau. Việc này giúp tiết kiệm thời gian di chuyển từ kệ làm việc này đến kệ làm việc khác và khiến mỗi công nhân thực hiện từng công việc riêng lẻ nhanh hơn và trôi chảy hơn. Smith cho hay sự phân công lao động của ông đã khiến năng suất của công nhân làm đ.i.nh gh.i.m tăng hơn 240 lần so với khi một công nhân làm cả 18 công đoạn – đây có thể là một sự phóng đại.
Ngày nay, một công nhân trong một nhà máy đ.i.nh gh.i.m ở Anh có thể làm nhiều đ.i.nh gh.i.m hơn 167 lần – hơn 800.000 đ.i.nh gh.i.m một ngày so với một công nhân năm 1776. Sự gia tăng năng suất này rất có ý nghĩa vì hai lý do có liên quan đến nhau. Nó khiến đ.i.nh gh.i.m và gần như mọi thứ khác rẻ hơn nhiều xét về số giờ lao động trên một chiếc đ.i.nh gh.i.m và nó khiến một giờ lao động có gi.á trị hơn, từ đó cung cấp cho người lao động th.u nh.ập cần thiết để mua đ.i.nh gh.i.m và những thứ khác, với số lượng lớn hơn rất nhiều so với năm 1776.
Nhà máy ô tô của Henry Ford là một bước tiến vĩ đại nhưng nó cũng chỉ là một sự kế thừa phức tạp nhà máy đ.i.nh gh.i.m của Adam Smith. Công thức thành công của Henry Ford là kết hợp một cách sáng tạo nguồn v.ố.n và nguồn nhân lực sao cho có thể tận dụng tối đa năng lực của cả hai.
Dù Ford nhanh chóng đ.á.nh m.ấ.t lợi thế cạnh tranh của nó vào t.ay các công ty ô tô khác – đầu tiên là General Motors, sau là Chrysler – nhưng nước Mỹ đã dẫn đầu thế giới trong ngành công nghiệp này đến tận những năm 1970. Nó đ.á.nh m.ấ.t vị thế dẫn đầu khi quên m.ấ.t bài học chủ đạo mà Henry Ford đã dạy – đó là gi.á trị có tính quyết định của những công nhân giỏi, có khả năng tạo ra các sản phẩm ch.i ph.í thấp, gi.á trị cao mà s.i.nh l.ờ.i nhiều – một bài học có thể nói là ngày càng rõ ràng và đúng đắn hơn trong thời đại ngày nay.
Từ những ví dụ trên, có thể thấy việc cải thiện năng suất, dù là nhờ công nghệ (máy làm đ.i.nh gh.i.m tốt hơn) hay các sáng chế khác (chia nhỏ công việc để chuyên môn hóa) phụ thuộc vào kỹ năng, khả năng và nền tảng học vấn của người lao động, trong cuộc đ.ấ.u tr.a.nh liên tục để khiến những công việc tẻ nhạt ngày một tốt hơn.
Via Trường doanh nhân HBR