Hôm qua giờ khá nhiều founders hỏi mình: "Anh ơi, Every Half gọi được Series A rồi. Làm bằng cách nào vậy nhỉ?”
Sau đây là các lý do chia sẻ về model của Every Half: Từ tài chính tới định vị thị trường và cách NDT tổ chức nhìn tài sản này để quyết định đầu tư:
1. Founder team đã có track record trên thị trường tài chính.
Người khởi nguồn của Every Half là Trần Lê Minh Trúc - Một người con quê Buôn Ma Thuột. Xuất thân là nghệ nhân rang cà phê, từng làm việc ở Urban Station, The Coffee House.
Đã bắt đầu Every Half từ năm 2016. Khoảng 5 năm trước khi công ty chính thức được thành lập. Trúc là type founder kĩ thuật, hiểu sản phẩm và lớn lên cùng vùng nguyên liệu, hiểu từng hạt cà phê, hiểu người nông dân, hiểu nghề.
Trong khi đó...
CEO Võ Duy Phú lại mang một năng lực bù trừ khác - Cựu Phó Tổng Giám đốc The Coffee House: Operation, Finance, Tech.
Không phải người giỏi sản phẩm nhất. Mà là người giỏi scale hệ thống.
Ở cả ba vòng gọi vốn Seed. Pre-Series A. Series A. Người đứng ra nói chuyện với quỹ có lẽ là Mr Phú.
2. Một team founder mạnh có liên quan tới nhau ở thương vụ trước
Every Half có thêm một nhân vật rất thú vị: Mr Nguyễn Hải Ninh - Founder The Coffee House từ Urban Station và M Village.
Ngay từ đầu, theo thông tin mình biết, M Village góp khoảng 80% vốn điều lệ (5 tỷ trên 6,25 tỷ). Tại thời điểm thành lập, Nguyễn Hải Ninh là Giám đốc kiêm người đại diện pháp luật. Sau đó được chuyển cho Mr Phú.
Điều thú vị là... Sau đó, Mr Ninh gần như không xuất hiện. Không phát ngôn, không đại diện truyền thông, Mr Ninh tập trung cho M Village nhưng cả 2 brands có chia sẻ mặt bằng với nhau.
3. Tài chính không phải lợi thế đầu tiên.
Quan hệ mới là lợi thế đầu tiên.
Founder team từng làm việc cùng nhau ở The Coffee House, đã va chạm, đã hiểu nhau và biết cách phối hợp trong các thương vụ khác.
Riêng việc TCH thoái vốn thành công cho Golden Gate với mình rất đẳng cấp và thành công.
Fact: Quỹ không chỉ nhìn từng CV mà còn nhìn vào lịch sử cộng tác.
Đó là một tín hiệu khiến signaling cost (chi phí tín hiệu) giảm đi rất nhiều rào cản khi thẩm định.
4. Định vị của Every Half Coffee:
Value Proposition: "Affordable Specialty Coffee", chuẩn SCA, giải quốc tế, nguồn gốc minh bạch, menu tập trung.
Customer Segments: Nhân viên văn phòng trẻ đô thị cao cấp; khách du lịch/expat Hội An; coffee enthusiast; khách xuất khẩu.
Channels: Cửa hàng tự vận hành (mặt tiền + shop-in-shop); online/TMĐT; xuất khẩu; bán lẻ hiện đại.
Key Resources: 2 xưởng rang; quan hệ nông dân trực tiếp 4 vùng (8-50ha); thương hiệu giải thưởng
Key Partnerships: M Village (mặt bằng); nông dân đối tác, chủ đầu tư BĐS cao cấp.
Key Investor: Openspace Capital + DSG Consumer Partners.
Cost Structure: COGS ưu thế nhờ tích hợp dọc; nhân sự kỹ năng cao; mặt bằng lai; vận hành 2 xưởng rang; marketing thấp (PR-driven)
Khoảng trống: Specialty thường rất đắt. Mass-market thì không specialty. Every Half đứng ở giữa. Trên Highland và các brands khác (Mass Production), dưới các thương hiệu Specialty Coffee không thể scale vì giá đắt làm giảm (TAM, SAM, SOM) - Độ lớn thị trường có thể acquire.
5. Chuỗi cung ứng
Every Half không chỉ bán cà phê.
Họ còn: có 2 xưởng rang, làm việc trực tiếp với nông dân, hợp tác từ 8ha lên 50ha, có truy xuất nguồn gốc + phát triển Fine Robusta
Điều này tạo ra lợi thế chi phí. Nhưng đổi lại... Working Capital tăng mạnh.
Every Half vừa là... Nhà bán lẻ. Vừa là nhà thu mua nông sản.
Hai mô hình này có 02 động lực tài chính và dòng tiền hoàn toàn khác nhau.
Cam kết mua toàn bộ mùa vụ, đồng nghĩa phải ứng tiền trước, tiền nằm trong hàng tồn kho, trong nguyên liệu dở dang, trong kho và có tỉ lệ hao hụt được tính vào giá thành.
Sau đó Every Half mới rang, rồi mới bán, rồi mới thu tiền.
Tức là... Cash Conversion Cycle của họ dài hơn nhiều chuỗi F&B thông thường.
6. Unit Economics dự đoán:
Một cửa hàng, tui dự đoán (Best case)
• khoảng 250 giao dịch/ngày
• giá bán trung bình khoảng 72.000 đồng
• doanh thu khoảng 540 triệu/tháng
• COGS khoảng 28%
• nhân sự khoảng 18%
• mặt bằng khoảng 12%
• contribution margin khoảng 34%
• hoàn vốn khoảng 4-5 tháng
Hiệu quả các cửa hàng sẽ sai lệch do các biến số tài chính tại địa điểm bất động sản khác nhau.
7. Lợi thế cạnh tranh (MOAT)
Không chỉ là logo. Không chỉ là menu. Mà là nguồn nguyên liệu.
Trong khi số cửa hàng tăng từ khoảng 8 lên hơn 35.
Diện tích hợp tác tăng từ khoảng 8ha lên khoảng 18ha ở một giai đoạn.
Điều đó có nghĩa theo tui đoán. Nguồn cung không mở nhanh bằng tốc độ mở cửa hàng.
Đây là thách thức lớn để cân bằng giữa chất lượng Specialty Coffee và kỳ vọng tăng trưởng của Vốn.
9. Replication - Tính nhân bản
Thử xem nhé:
Thiết kế cửa hàng? Copy được.
Menu? Copy được một phần.
Barista? Đào tạo được.
Nhưng: Nguồn nguyên liệu. Quan hệ với chủ mặt bằng đẹp. Văn hóa vận hành. Kiểm soát chất lượng. Đội ngũ quản lý cấp trung.
Đó mới là lợi thế và rào cản cạnh tranh cần mất thời gian để xây và không dễ để bắt chước cùng lúc trong 01 thời gian ngắn, know-how này cần 01 team founder có kinh nghiệm chất lượng triển khai.
10. Funding rounds:
Seed (8/2024): Khoảng 8 cửa hàng. Không công bố số tiền.
Pre-Series A (5/2025): 3 triệu USD. Khoảng 14 cửa hàng. Định giá thị trường dự đoán khoảng 17-25 triệu USD.
Series A (7/2026): 8 triệu USD. 35-36 cửa hàng. Định giá thị trường dự đoán khoảng 32-53 triệu USD.
Điều này cho thấy. Quỹ không chỉ mua hiện tại. Quỹ mua khả năng nhân bản các đơn vị kinh doanh và thấy giá trị cổ phiếu tăng qua từng vòng gọi vốn khác nhau trên Cap Table.
11. Cap Table dự đoán:
Ước lượng sau ba vòng:
• Nguyễn Hải Ninh (thông qua M Village) khoảng 46-51%
• OpenSpace Capital + DSG khoảng 38-45%
• Founder vận hành (Phú, Trúc, Giang) còn khoảng 11-13%
Nhiều founder sẽ hỏi: "Với Phú vs Trúc thì có ít không nhỉ?"
Nhưng câu hỏi đúng phải là:
11% của công ty trị giá 50 triệu USD... hay 100% của một công ty không bao giờ scale?
12. Hành trình khách hàng của Every Half:
Truyền thông
→ Nhận diện.
→ Trải nghiệm cửa hàng.
→ Cộng đồng Aeropress.
→ Cupping.
→ Truyền miệng.
→ Membership Zalo Mini App.
Cách đây mấy năm cá nhân mình nghĩ EH là khoảng định vị trống hiếm hoi còn có trên thị trường nhưng cũng khó scale vì:
Một.
Triết lý "chậm mà chắc." Nhưng sau khi có vốn. Tốc độ mở cửa hàng lên khoảng 157%/năm.
Đây là áp lực rất lớn giữa triết lý Specialty và kỳ vọng tăng trưởng tài sản của vốn.
Hai.
Không thấy công khai Head of Marketing. Head of Expansion.
COO mở rộng, CFO... Trong khi đã hiện diện ở nhiều thành phố.
Khả năng cao các co - founder vẫn đang kiêm chức danh.
Ba.
Sự cố chuyển đổi Zalo Mini App.
Chuyển từ thẻ giấy sang app nhanh chóng. Khách hàng phản ứng. Founder phải xin lỗi công khai.
Đây là ví dụ rất thực tế về change management - Quản trị các sự thay đổi về chuyển hoá với yêu cầu tăng trưởng và sử dụng vốn hiệu quả đồng thời duy trì cảm xúc của khách hàng, cộng đồng liên quan.
Founders học được gì?
1. Founder-Market Fit dựa trên track record ấn tượng trong quá khứ, hãy chăm chút cho giá trị bản thân và khi đã có thành tựu với thị trường tài chính. Bạn dễ dàng tiếp tục các thương vụ tiếp theo.
2. Người giỏi sản phẩm chưa chắc là người giỏi gọi vốn. Nhưng gọi vốn trên một mô hình không thể nhân bản cũng rủi ro. Dream team cần cả 2 góc nhìn.
3. Đồng sáng lập từng làm việc với nhau đáng giá hơn nhiều CV đẹp.
4. Branding với nhà đầu tư cũng quan trọng như branding với khách hàng.
5. Unit Economics đẹp chưa đủ, hiểu tổng thể mô hình KD để nắm rõ động lực của vốn lưu động tạo ra.
6. Cashflow luôn quan trọng hơn Profit.
7. Scale nhanh nhưng governance (năng lực quản trị) không theo kịp sẽ rất nguy hiểm.
8. Lợi thế cạnh tranh thật sự nằm ở hệ thống, chuỗi cung ứng và con người; một rào cản không dễ bắt chước từ đối thủ trọng thị trường là 01 tài sản có giá trị.
9. Quỹ đầu tư không mua doanh thu. Quỹ mua khả năng nhân bản với ít biến động trong tương lai (Dễ dự phóng tương lai dựa trên lịch sử & công thức vận hành trong quá khứ)
Điều cuối cùng mình muốn nói.
Rất nhiều founder hỏi mình: "Làm sao để gọi được Series A?"
Theo mình... Câu hỏi nên hỏi là:
Nếu ngày mai quỹ chuyển vào tài khoản bạn 2 triệu USD... doanh nghiệp của bạn có đủ hệ thống để biến 2tr USD đó thành 5 triệu USD giá trị hay không?
Nếu câu trả lời là chưa. Thì vấn đề không nằm ở việc chưa gặp đúng quỹ.
Mà nằm ở việc doanh nghiệp chưa được xây dựng để có 01 mô hình kinh doanh và founder team đủ năng lực hấp thụ vốn.
Vốn không tạo ra doanh nghiệp tốt. Doanh nghiệp tốt mới hấp thụ được vốn.
Và đó cũng là điều founders cần học được nhiều nhất từ câu chuyện Every Half.
Đôi khi... Series A không phải là phần thưởng.
Nó chỉ là bài kiểm tra lớn hơn của một hệ thống đã được chuẩn bị từ rất lâu.
Nhưng với tui thì founders ở Vietnam thì tương đối vội vàng ;))
Thích gặp NDT trước, nhưng gặp rồi thì cũng không hấp thụ được vốn.
Equitix team có rất nhiều model và biết nhu cầu buyers sẽ rót vốn vào mô hình nào, chỉ thiếu team founder có đủ góc nhìn và có track record tương đối đã qua các quy mô:
- 40 - 50 tỷ/1 năm Product - Market Fit
- Background tài chính hoặc Sales, Marketing có Co - Founder kĩ thuật, hiểu nghề đã đồng hành lâu năm (tức hiểu nhau đủ).
Tụi mình sẽ chia sẻ thêm các góc nhìn để các bạn build được công ty tiếp cận với mạng lưới 300+ NDT tổ chức bên mình.
Số liệu thật: Hàng năm Equitix & Partner thực hiện trung bình 50 - 80 thương vụ nhưng tỉ lệ thành công khoảng 3 - 5%. Lý do: Chất lượng tài sản không đạt tiêu chuẩn NDT.
Và lưu ý với anh chị em là: Người đi bán thì nhiều hơn người đi mua trong bối cảnh Vietnam vẫn là đất nước phải nhập khẩu vốn và NDT nước ngoài thì sẵn sàng trả định giá cao hơn nội địa.
Do đó cách duy nhất để tranh được suất đầu tư của NDT đó là xác định rõ: Đội ngũ mình đã build thật sự sẵn sàng cho cơ hội hấp thụ vốn ... hay chưa?
Gọi vốn không chỉ cần tiền của NDT, mà hãy nghĩ rằng đó là cơ hội để track record của mình trở thành nhóm "Flight to quality” Tức việc dòng vốn/sự chú ý tự động chảy về nơi đạt chuẩn cao hơn.
hoặc "Becoming the scarce asset", trở thành tài sản hiếm, tức là người khác phải cạnh tranh để tiếp cận bạn, thay vì ngược lại.
Share không cần hỏi.
Buổi tối tốt lành.
Disclaim: Thông tin mang quan điểm cá nhân và phân tích dựa trên các thông tin được công bố, không phải khuyến nghị đầu tư.