Cho vay khách hàng tăng, nhưng phần thu nhập giữ lại sau chi phí vốn lại thu hẹp. Cùng lúc, nợ cần chú ý tăng hơn gấp đôi, nợ có khả năng mất vốn vượt 1.000 tỷ đồng và các khoản lãi, phí phải thu tiếp tục lớn lên.

Báo cáo quý III/2026 của BaoViet Bank vì thế đặt ra nhiều câu hỏi hơn con số tăng trưởng tín dụng.

📉 Thu lãi nhiều hơn, phần giữ lại ít hơn

Quý III, ngân hàng ghi nhận thu nhập lãi khoảng 2.059,7 tỷ đồng. Tuy nhiên, chi phí lãi tăng mạnh lên 1.744 tỷ đồng, so với 937,1 tỷ đồng cùng kỳ.

Thu nhập lãi thuần còn 315,7 tỷ đồng, giảm 32,5%. Sau chi phí và thuế, lợi nhuận quý đạt khoảng 13,42 tỷ đồng, giảm 41,7%.

Trong cơ cấu chi phí, lãi vay tăng từ 0,46 tỷ lên 132,3 tỷ đồng; chi phí hoạt động tín dụng khác tăng từ 7,3 tỷ lên 169,6 tỷ đồng.

baoviet-bank-no-can-chu-y-tang-manh-lai-giam-42-dong-tien-kinh-doanh-am-hon-5400-ty-dong-1792733770.jpg

Tín dụng mở rộng chưa đủ bảo đảm lợi nhuận tăng tương ứng khi chi phí để có nguồn vốn cũng đi lên.

Lũy kế chín tháng, thu nhập lãi thuần vẫn tăng lên 927,84 tỷ đồng. Nhưng lãi thuần dịch vụ giảm 54,5%, còn 196,7 tỷ đồng, khiến nguồn thu ngoài lãi kém hỗ trợ hơn trước.

🔎 Nợ cần chú ý tăng nhanh hơn dư nợ cho vay

Cuối tháng 9, dư nợ cho vay khách hàng đạt 62.923 tỷ đồng, tăng 7,7% so với đầu năm.

Trong khi đó, nợ nhóm 2 tăng từ 1.187,5 tỷ lên 2.463,3 tỷ đồng, tức hơn gấp đôi. Nợ nhóm 5 vượt 1.000 tỷ đồng.

Nợ nhóm 2 chưa phải nợ xấu, nhưng tốc độ tăng là tín hiệu cần theo dõi về chất lượng tín dụng. Với nhóm 5, tên gọi “nợ có khả năng mất vốn” cũng không đồng nghĩa toàn bộ khoản tiền đã mất; khả năng thu hồi còn phụ thuộc tài sản bảo đảm, xử lý nợ và các điều kiện cụ thể.

Điều cần làm rõ thêm là mức trích lập dự phòng, khả năng thu hồi và diễn biến chuyển nhóm trong các kỳ tới.

💰 Gần 8.000 tỷ đồng lãi, phí phải thu

Khoản lãi, phí phải thu tăng 28,3%, từ 6.221,8 tỷ lên 7.982,5 tỷ đồng.

Trong chín tháng, thu nhập lãi được ghi nhận khoảng 5.324,9 tỷ đồng, còn tiền lãi thực nhận trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ là 3.564,2 tỷ đồng.

Hai chỉ tiêu có cơ sở ghi nhận khác nhau, nên không thể mặc nhiên coi toàn bộ chênh lệch là lãi quá hạn hay khó thu. Tuy nhiên, quy mô phải thu tăng lên vẫn đặt ra yêu cầu theo dõi thời điểm chuyển thành tiền và chất lượng các khoản liên quan.

🌊 Dòng tiền kinh doanh âm sâu hơn, cần đọc trong đặc thù ngân hàng

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh chín tháng âm 5.456,5 tỷ đồng, so với mức âm 3.667,3 tỷ đồng cùng kỳ.

Với ngân hàng, dòng tiền kinh doanh chịu ảnh hưởng lớn từ biến động cho vay, tiền gửi và các khoản giao dịch khác. Con số âm này chưa đủ để kết luận ngân hàng mất thanh khoản hoặc kinh doanh thua lỗ.

Dù vậy, khi đặt cạnh lãi phải thu tăng và chi phí vốn cao hơn, đây là chỉ tiêu cần được phân tích cùng khả năng huy động, cơ cấu kỳ hạn và các tỷ lệ an toàn thanh khoản.

Khoản vay Ngân hàng Nhà nước cuối kỳ tăng từ 6.138,2 tỷ lên 7.094,4 tỷ đồng. Chỉ từ mức tăng này cũng chưa thể xác định nguyên nhân hay kết luận ngân hàng cần hỗ trợ khẩn cấp.

📊 Tiền gửi không kỳ hạn thu hẹp

Tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng giảm từ 3.952,9 tỷ xuống 1.880,7 tỷ đồng, còn khoảng 2,4% tổng tiền gửi 78.946,4 tỷ đồng.

Nguồn vốn chi phí thấp thu hẹp có thể làm khó bài toán kiểm soát chi phí huy động. Tuy nhiên, chưa có dữ liệu để quy sự sụt giảm này cho chất lượng ngân hàng số hoặc trải nghiệm khách hàng.

Thuyết minh còn ghi nhận số dư phải trả Tập đoàn Bảo Việt và các công ty thành viên là 37.276,6 tỷ đồng. Chi phí lãi với nhóm liên quan trong chín tháng khoảng 1.067,4 tỷ đồng. Đây là mối quan hệ nguồn vốn có quy mô đáng kể, cần được xem xét thêm về kỳ hạn và mức độ tập trung.

Với BaoViet Bank, tăng dư nợ mới là một phần câu chuyện. Khả năng kiểm soát giá vốn, thu hồi lãi và giữ chất lượng tín dụng mới quyết định tăng trưởng ấy mang lại bao nhiêu lợi nhuận thực chất.