Tam Quốc: Nhà Hán suy vong như thế nào? (Phần 1)
Tam Quốc: Nhà Hán suy vong như thế nào? (Phần 2)
Tam Quốc: Nhà Hán suy vong như thế nào? (Phần 3)
Tam Quốc: Nhà Hán suy vong như thế nào? (Phần 4)
Tam Quốc: Nhà Hán suy vong như thế nào? (Phần 5)
Trong các phần trước, chúng ta chỉ tập trung nói về các vấn đề nội bộ trong kinh thành, nhưng trong 2 phần tới đây, chúng ta sẽ đổi hướng về phía tây và bàn về một trong những kẻ địch ngoại bang mạnh nhất của nhà Hán.
Như các bạn có thể thấy trong hình dưới đây, nhà Tây Hán vào thời điểm hưng thịnh nhất của mình, kiểm soát toàn bộ vùng đất màu xanh lá bên dưới, gồm cả một phần lãnh thổ Nga, Triều Tiên, Việt Nam và Kazakhstan hiện nay. Một điều đáng chú ý, là nhà Hán lại nắm giữ một phần lãnh thổ phía tây rộng lớn, nằm cách xa khu vực đông dân cư ở Trung Nguyên.

Để hiểu tại sao lại có chuyện như vậy, trước tiên chúng ta phải đổi bản đồ sang hình bên dưới và xem xem nhà Hán chia các khu vực ra để cai quản như thế nào.

Ở trong hình, vùng đất màu hồng được khoanh tròn chính là Lương Châu, tâm điểm của những sự kiện sau này khi chúng ta đi sâu vào cuộc Khởi nghĩa Lương Châu. Nhưng tuy nhiên, kế bên nó, như các bạn thấy, là vùng màu xanh lá khổng lồ tên 西域都护府, tức “Tây vực Đô hộ phủ”, sau này mình sẽ chỉ gọi là “khu vực phía tây.” Khu vực này không có nhiều người Hán sinh sống, và chưa bao giờ được công nhận là 1 “châu” của nhà Hán, đúng hơn chỉ là một tập hợp của 50 bộ tộc nhỏ làm chư hầu cho nhà Hán. Khu vực phía tây này trải dài đến tận Đế quốc Ba Tư và là lối đi chính cho con đường tơ lụa nổi tiếng.
Để có được vùng đất này, nhà Hán đã bỏ ra hơn 300 năm để đánh nhau với bộ tộc người Hung Nô và cuối cùng giành chiến thắng. Về phần tộc Hung Nô, sau khi liên tục thất bại đã xảy ra lục đục nội bộ, và bị chia ra làm hai, tộc Bắc Hung Nô di cư về phía tây bắc sang châu Âu, sau này đánh nhau với La Mã, tộc Nam Hung Nô chọn ở lại và trở thành chư hầu cho nhà Hán. Mặc dù có ý định nổi loạn trở lại vào thời kỳ Tam Quốc, họ một lần nữa bị đánh bại bởi quân của Tào Tháo, ông làm suy yếu tộc Hung Nô hơn nữa, khi chia tộc này thành 5 tộc người khác nhau, khiến họ không còn khả năng chống cự quân Hán, cho đến khi Trung Hoa tiếp tục đại loạn vào thời Loạn Bát Vương nhà Tấn.
Chiến thắng trước quân Hung Nô dẫn đến rất nhiều hệ quả. Thứ nhất, việc buôn bán, trao đổi hàng hoá phát triển cực thịnh qua con đường tơ lụa, và một số hàng hoá được nhập khẩu vào Trung Hoa trong thời kỳ này gồm các loại thực phẩm như vừng, đậu, dưa leo, hành lá, cà rốt,... và một số loài động vật như lạc đà, lừa, ngựa,... Tất nhiên là trước đó Trung Hoa vẫn có ngựa, nhưng thông qua con đường tơ lụa, họ nhập khẩu một số giống loài mới to hơn và khoẻ hơn, ví dụ như ngựa Xích Thố của Lữ Bố cũng là hàng nhập khẩu về. Ngoài nhập khẩu hàng nước ngoài ra, Trung Hoa còn xuất khẩu tơ lụa và các đồ dùng sắt khác. Do đó, nhà Hán luôn tìm cách để bảo vệ được con đường tơ lụa này.
Tuy nhiên, đánh bại được quân Hung Nô còn để lại một số hậu quả khác, khi kẻ thù chính chuyển từ tộc Hung Nô sang tộc người Khương ở phía nam Lương Châu. Trong hàng trăm năm qua, Khương tộc không phải là một bộ tộc du mục như Hung Nô, mà chỉ là nông dân sinh sống trong các vùng đất màu mỡ ở Lương Châu, làm chư hầu cho Hung Nô. Khi quân Hán đánh bại được Hung Nô, nhiều người dân Hán đã đến đây sinh sống, đẩy tộc Khương ra khỏi các vùng đất màu mỡ dễ trồng trọt, canh tác, buộc tộc Khương trở thành dân du mục, một số còn xin phục vụ quân đội nhà Hán làm lính đánh thuê chống Hung Nô. Nhờ vậy, người Khương một lần nữa được mời trở lại sống chung với người Hán, và dần dần hôn nhân giữa 2 tộc người này trở nên phổ biến, ví dụ như quân phiệt Mã Đằng, cha của Mã Siêu, là con lai giữa người Hán và Khương.
Nhưng hai dân tộc này không phải lúc nào cũng hoà thuận, và đã có hơn 5 cuộc khởi nghĩa tại Lương Châu diễn ra trong thời nhà Hán, với cuộc khởi nghĩa cuối cùng sẽ là cuộc khởi nghĩa chúng ta bàn đến sau này. Lý do thường là vì một số quan chức chịu trách nhiệm quản lý tộc Khương là “Hộ Khương hiệu uý” (护羌校尉) làm sai chuyện gì đó hoặc trở nên tham nhũng. Và tộc người Khương có phần hơi đặc biệt ở chỗ họ không quan tâm tới sắc tộc, và chỉ chọn lựa lãnh đạo dựa trên năng lực, như vậy, bạn có thể là một công dân người Hán, như Hàn Toại, chứng minh bạn có năng lực lãnh đạo, và tộc Khương đó sẽ quyết đi theo bạn. Nhưng cũng vì vậy mà đa phần các cuộc khởi nghĩa đều thất bại, do các chỉ huy cuộc khởi nghĩa quay sang đánh nhau tranh giành quyền lực.
Trước khi tìm hiểu về cuộc Khởi nghĩa Lương Châu cuối cùng, trong phần tới, chúng ta phải bàn đến chính sách của nhà Hán tại Lương Châu trong thời 3 vị Hộ Khương hiệu uý thành công nhất là Hoàng Phủ Uy, Trương Hoán, Đoàn Quýnh trước đã. Ba người này còn được gọi là “Lương Châu Tam Minh” (涼州三明), do trong tên tự đều có chữ “Minh.” Cả ba người này đều có rất nhiều thành công trong thời làm Hộ Khương hiệu uý. Trong phần 2 chúng ta đã nói sơ qua về Trương Hoán, khi ông trở về kinh thành và vô tình giúp hoạn quan giết được Đậu Vũ. Hoàng Phủ Quy là chú của Hoàng Phủ Tung, một tướng quân có công diệt giặc Khăn Vàng. Và Đoàn Quýnh là một trong những tướng quân thành công nhất thời Đông Hán, nhưng thường không được nhắc tới do ông câu kết với hoạn quan.
Tất cả những thành công của Lương Châu Tam Minh sẽ được nói đến trong phần sau, khi chúng ta đi sâu vào việc chính sách tàn bạo của Đoàn Quýnh và tham nhũng của Lưu Hoành (có bàn đến trong phần 5) đã đẩy toàn bộ vùng Lương Châu vào khởi nghĩa trong thời điểm tệ nhất có thể, khi mà quân Khăn Vàng cũng đang đánh chiếm các khu vực miền đông bắc Trung Hoa.
Và hết phần sau là chúng ta đã có đầy đủ thông tin làm bối cảnh để đi sâu cuộc Khởi nghĩa Khăn Vàng và các quân phiệt như Mã Đằng, Hàn Toại, Đổng Trác,... đều có liên quan đến cuộc khởi nghĩa ở Lương Châu.

Minh Hoang Phuc dịch từ Serious Trivia