Đây là bài viết để bán sách, nhưng các bạn cũng có thể hiểu hơn về kinh tế Trung Quốc. Cả hai cuốn đều có bán tại The Book Lag - Tiệm sách hay.

------

Trong những tháng ngày du học tại Trung Quốc, may mắn lớn nhất và cũng là nhiệm vụ lớn nhất của tôi, là việc hệ thống hoá hiểu biết của mình về những nhà kinh tế có ảnh hưởng của Trung Quốc trong thời hiện đại – ít nhất cũng phải từ năm 1978 đến nay. Tôi chia họ thành ba nhóm. Những nhà kinh tế học chủ lưu có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạch định chính sách của chính phủ. Những nhà kinh tế học “dị thường” có ảnh hưởng đến tư tưởng kinh tế Trung Quốc nhưng không thuộc nhóm tham gia sâu vào hoạch định chính sách. Và những nhà kinh tế phát ngôn cho chính phủ - họ không nhất thiết phải xuất sắc nhưng chắc chắn phải đại diện cho những điều mà chính phủ muốn truyền đạt đến người nghe trong và ngoài nước.

Ở nhóm thứ nhất, Ngô Kính Liễn (Wu Jinglian) là một đại diện xuất sắc của đường lối cải cách theo hướng thị trường hoá. Ông được gọi trìu mến là “Ngô thị trường” (Wu Market) và cũng bị đe doạ bởi chính các tư tưởng này khi nhóm bảo thủ trong Đảng ngày càng cảm thấy e ngại trước ảnh hưởng kinh tế của phương Tây. Nhóm này còn có Lịch Dĩ Ninh (Li Yining). Ông được gọi là “Lịch cổ phần” khi giành phần lớn cuộc đời mình thúc đẩy quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước tại Trung Quốc theo hướng cổ phần hoá. Cùng với “Ngô thị trường” ông được coi là truyền cảm hứng cho những năm tháng dò đá qua sông của Đảng và chính phủ. Ngoài ra có thể kể đến Lưu Hạc. Đọc nhóm này giúp hiểu toàn bộ lịch sử cải cách và những chuyển đổi đầy khó khăn về mặt tư duy của lãnh đạo Trung Quốc.

Ở nhóm thứ hai, Bạch Trùng Ân (Bai Chong’en), Trương Duy Nghinh (Zhang Weiying) là những tên tuổi rất nổi tiếng. Và nhất là Vương Đinh Đinh (Wang Dingding). Ông đã viết một cuốn sách vô cùng dễ hiểu nhưng sắc sảo về Lịch sử tư tưởng các học thuyết kinh tế thế giới. Đọc nhóm này giúp mở mang đầu óc, lôi ta vào chìm đắm suy tư.

Ở nhóm thứ ba, tôi thấy Lâm Nghị Phu (Lin Yifu) được xếp đầu tiên. Trương Quân (Zhang Jun) có thể đứng thứ hai. Sau đó là các nhà kinh tế của trung tâm nghiên cứu sức mạnh tổng hợp quốc gia đặt trong Đại học Bắc Kinh. Nhóm tác giả này nói chung đọc cũng được, không đọc cũng không thấy tiếc vì nhìn chung họ viết rất nhiều và rất dài.

Trở lại với Lâm Nghị Phu, ông là một tập hợp của nhiều cái “đầu tiên” thú vị. Trước hết, ông là sinh viên đi từ Trung Quốc đầu tiên sau Cách mạng Văn hóa trở về với bằng tiến sĩ kinh tế của Mỹ. Lâm Nghị Phu đến Đại học Chicago, cái nôi của tư tưởng thị trường tự do. Stiglitz nói : “Ông ấy là một trong những người đã đưa kinh tế thị trường vào Trung Quốc, nhưng điều bất thường ở ông ấy là ông ấy được đào tạo ở Chicago nhưng không tin vào kinh tế học Chicago – hay ít nhất, bạn có thể nói, đó không phải là phiên bản ngây thơ nhất của kinh tế thị trường”. Ông là nhà kinh tế đầu tiên đến từ các nước đang phát triển nắm giữ chức vụ Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới. Ở vai trò này, Nghị Phu hiện diện nhẹ nhàng hơn, ít thách thức hơn so với một số người tiền nhiệm, bao gồm Joseph Stiglitz và Lawrence Summers.

Nếu sự bùng nổ của Trung Quốc không được ghi chép rõ ràng, thì những thoáng chốc đầu tiên của nó sẽ giống như một huyền thoại sáng tạo của chủ nghĩa tư bản hiện đại: Vào mùa đông năm 1978, ngôi làng Tiểu Cương (Xiaogang) bị tê liệt bởi những ảo tưởng kinh tế của Đại Nhảy vọt đến nỗi trong cơn tuyệt vọng, mười tám nông dân, sau khi ký hiệp ước bảo vệ gia đình nhau trong trường hợp bị bắt, đã chia đất để canh tác riêng và thu lợi nhuận. Đến năm sau, họ đã kiếm được thu nhập gần gấp 20 lần so với trước đây. Khi việc làm này bị phát hiện, một số cán bộ đã buộc tội họ “đào xới nền tảng của chủ nghĩa xã hội”, nhưng các nhà lãnh đạo khôn ngoan hơn trong đó có Đặng Tiểu Bình đã nhận ra đó là biển chỉ dẫn cho sự cứu chuộc.

Đặng Tiểu Bình, người lên nắm quyền vào tháng 12 năm 1978, thường được người ngoài coi là kiến trúc sư duy nhất của cải cách mở cửa, nhưng quan điểm đó là của các nhà lịch sử Đảng. Đặng là một chính khách, nhưng theo nhà kinh tế học Barry Naughton, một chuyên gia về Trung Quốc tại Đại học California ở San Diego, Đặng chưa bao giờ bày tỏ “bất kỳ cái nhìn sâu sắc cụ thể nào về hoạt động của nền kinh tế”. Động thái khôn ngoan nhất của ông là làm việc với hai nhà lãnh đạo ít được nhắc đến hơn là Trần Vân -người hoài nghi về phương Tây đến mức ông chào đón sự khởi đầu của cải cách bằng cách đọc lại “Chủ nghĩa đế quốc” của Lênin – và người thứ hai là Triệu Tử Dương, một người trẻ hơn, có tư tưởng cải cách. Ba nhà lãnh đạo thường xuyên tranh cãi với nhau, nhưng họ đã tìm được cách để phối hợp. Và sản phẩm của nó dẫn đến mô hình vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Đó là một “nền kinh tế lồng chim”, như Trần Vân đã ví von, đủ thoáng đãng để thị trường phát triển nhưng không quá tự do để nó thoát ra ngoài. Trong tất cả các nguyên tắc của họ, điều quan trọng nhất là sự sẵn sàng thử nghiệm và thích nghi. Khi dân làng Tiểu Cương và những nơi khác đạt được thành công, các nhà lãnh đạo Đảng đã mở rộng sáng kiến của họ tới 800 triệu nông dân trên khắp đất nước. Những cải cách của Trung Quốc không có kế hoạch chi tiết. Chiến lược cải cách được gọi là “dò đá qua sông”. Cái tên đã phản ánh hết chính sự mò mẫm và thận trọng của ba nhà lãnh đạo hàng đầu lúc bấy giờ.

Lâm Nghị Phu theo dõi những chuyển mình đó của Trung Quốc từ bên kia eo biển Đài Loan. Sau khi bơi 2000 mét từ đảo Kim Môn để lại vợ và hai người con, Lâm mới chính thức đổi tên mình thành “Nghị Phu” - một tham chiếu Nho giáo có nghĩa là “một người kiên trì trên một hành trình dài” - và đăng ký theo học chương trình thạc sĩ kinh tế tại Đại học Bắc Kinh. Năm 1980, nhà kinh tế học Theodore Schultz của Đại học Chicago, người vừa đoạt giải Nobel, đã đến thăm trường và phát biểu. Lâm nói tiếng Anh tốt nhờ học tập và lớn lên ở đảo Đài Loan, đã được giao việc phiên dịch. Khi Schultz trở lại Chicago, ông giúp Nghị Phu có một suất học bổng. Năm 1982, Nghị Phu đến Mỹ và đoàn tụ với gia đình tại đó.

Khi trở lại Trung Quốc vào năm 1987, đất nước này đang rất cần chuyên môn kinh tế. Xoay quanh bộ ba lãnh đạo là các nhà kinh tế được giao nhiệm vụ tìm ra cách sử dụng lực lượng lao động khổng lồ của Trung Quốc để tạo ra một nền kinh tế xuất khẩu thuộc loại hàng đầu thế giới như cách Hàn Quốc và Nhật Bản đã làm. Đối với các nhà kinh tế Trung Quốc, việc đột ngột nắm bắt thị trường là cú xoay chuyển mới nhất trong một vở kịch ý thức hệ. Là người trở về từ Mỹ, Nghị Phu phải đối mặt với một vấn đề làm thế nào có thể giải thích Milton Friedman cho những người theo chủ nghĩa xã hội? “Tôi đã đến dự tất cả các cuộc họp và không nói gì cả,” ông nói. Cuối cùng, một cơ may đã đến khi cuối cùng ông cũng tìm được cách diễn ngôn của mình. “Họ rất ngạc nhiên vì tôi đã nói những từ tương tự như của họ, bằng ngôn ngữ mà họ có thể hiểu được” khi vào cuối những năm 1990, khi các kho hàng ở Trung Quốc chứa đầy tivi, tủ lạnh và các mặt hàng tiêu dùng khác, nhiều nhà kinh tế đã đổ lỗi cho vấn đề này là thu nhập thấp, nhưng Nghị Phu không đồng ý. Ông nói: “Người dân không có cơ sở hạ tầng để tiêu thụ những loại sản phẩm đó”. Ông trở thành một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất việc đầu tư mạnh vào điện, nước sinh hoạt và đường sá ở nông thôn, một đề xuất được Đảng tán thành trong một gói cải cách được triển khai với khẩu hiệu “Nông thôn mới xã hội chủ nghĩa”. Tương tự như vậy, ông sử dụng ngôn ngữ của kinh tế học tân cổ điển để ca ngợi việc Trung Quốc sử dụng “lợi thế so sánh” của mình trong việc theo đuổi ngành sản xuất chi phí thấp, sử dụng nguồn lao động khổng lồ của đất nước. Ông lấy thành công của Trung Quốc làm kim chỉ nam cho các quốc gia khác: “Nếu bạn phát huy lợi thế so sánh của mình, bạn sẽ xuất khẩu bất cứ thứ gì bạn giỏi và bạn sẽ nhập khẩu bất cứ thứ gì bạn không giỏi”.

Năm 1994, trong một văn phòng nhỏ, đơn giản ở Đại học Bắc Kinh, Nghị Phu và bốn nhà kinh tế khác đã thành lập Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc, một tổ chức think-tank đời đầu được thiết kế để thu hút các học giả Trung Quốc ở nước ngoài. Nó nhanh chóng mở rộng và Nghị Phu trở thành tiếng nói có ảnh hưởng, thành cố vấn cho các Kế hoạch 5 năm của chính phủ và các dự án khác.

Thành công này đưa Lâm Nghị Phu một lần nữa quay trở lại Mỹ. Zoellick đưa Nghị Phu đến Ngân hàng Thế giới vào tháng 6 năm 2008 nơi ông có một văn phòng rộng rãi ở góc trên tầng bốn của trụ sở mười ba tầng cách Nhà Trắng vài dãy nhà. Ông lãnh đạo một đội ngũ gần ba trăm nhà kinh tế và các nhà nghiên cứu khác, công việc của họ là giúp Ngân hàng và chính phủ các nước nghèo quyết định các chiến lược nâng cao mức thu nhập, một chủ đề đã gây tranh cãi trong nhiều thập kỷ bởi các cuộc tranh luận về hệ tư tưởng. Ban đầu, Ngân hàng hợp tác chặt chẽ với các chính phủ để xây dựng cơ sở hạ tầng - đường sá, nhà máy điện và các dự án tương tự khác - nhưng đến những năm 1970, cách tiếp cận đó bị coi là không hiệu quả và không còn được ưa chuộng. Khi Liên Xô sụp đổ, động lực trong Ngân hàng Thế giới và đặc biệt là Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã chuyển sang ủng hộ “liệu pháp sốc”, tìm cách cắt giảm chi tiêu, tư nhân hóa các công ty nhà nước và mở cửa biên giới cho thương mại và đầu tư nước ngoài, và ý tưởng được gọi là Đồng thuận Washington. Nhưng những học giả như Nghị Phu đã trở thành những người ủng hộ thẳng thắn cho cái mà ông gọi là “cách tiếp cận theo chủ nghĩa thí điểm tiệm tiến” của Trung Quốc. Trong một bài giảng tại Đại học Cambridge vào mùa thu năm 2007, ông đã chỉ ra “sự thất bại của những cải cách theo Đồng thuận Washington”. Các chính sách trị liệu sốc do I.M.F. ông nói có vẻ giống “cú sốc không cần điều trị” hơn và chắc chắn sẽ dẫn đến “hỗn loạn kinh tế”. Ông cho biết những người ủng hộ Đồng thuận Washington đã cảnh báo rằng cách tiếp cận cải cách chậm rãi của Trung Quốc, theo cách nói của ông, sẽ là “chiến lược chuyển đổi tồi tệ nhất có thể xảy ra” và sẽ “dẫn đến sự sụp đổ kinh tế không thể tránh khỏi”.

Trung Quốc và các quốc gia khác—đáng chú ý nhất là ở châu Á—đã có bước nhảy vọt từ tình trạng kém phát triển và nghèo đói lan rộng. Trong cuốn Kinh tế học cấu trúc mới của mình, Lâm Nghị Phu đã lập luận về một giải pháp dành cho các nước kém phát triển có thể được tóm tắt là “tận dụng tốt nhất những gì bạn có”. Nguyên lý chính trong “khuôn khổ phát triển mới” của ông là vai trò quan trọng của chính phủ trong việc hỗ trợ các ngành công nghiệp được lựa chọn nhằm kích hoạt chuyển đổi cơ cấu. Cách làm này, thường được gọi một cách thông tục là “chọn người thắng và kẻ thua”, hay chính sách ngành (indsutrial policy).

Lời chỉ trích hàng đầu vẫn là sự phán đoán không hoàn hảo và những lợi ích bị bóp méo của chính phủ đã thay thế những quyết định lạnh lùng, rõ ràng của thị trường. Chẳng hạn, Bộ Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản được nhiều người đánh giá cao từng phản đối kế hoạch xuất khẩu của các nhà sản xuất ô tô trong nước và cố gắng ngăn cản Honda mở rộng từ xe máy sang ô tô vì không muốn có thêm một công ty khác tham gia vào ngành. Để tránh những sai lầm như vậy, bí quyết thành công, theo Nghị Phu, là xác định các ngành công nghiệp phù hợp với cơ cấu nguồn vốn và mức độ phát triển của một quốc gia nhất định. Ông chỉ ra Chile, chẳng hạn, đã chuyển từ các ngành công nghiệp cơ bản như khai thác mỏ, lâm nghiệp, đánh cá và nông nghiệp sang luyện nhôm, nuôi cá hồi và sản xuất rượu vang, với sự hỗ trợ của chính phủ. Ông cho biết, trước đây, chính sách ngành thường thất bại vì chính phủ cố gắng áp đặt sự phát triển của các ngành không phù hợp với nguồn lực của đất nước. Tức là họ đã “thách thức” lợi thế so sánh của mình.

Việc Lâm Nghị Phu chọn Kinh tế học Cấu trúc Mới làm tên gọi cho khung lý thuyết của mình có sự cộng hưởng từ Kinh tế học Cấu trúc—được ông gọi là làn sóng tư duy phát triển đầu tiên—nổi lên ở Châu Mỹ Latinh vào những năm 1940, với sự hỗ trợ của chính phủ đối với sự can thiệp để thúc đẩy phát triển. Nhưng nhà kinh tế trưởng khu vực Châu Phi của Ngân hàng Thế giới, Shantayanan Devarajan, tin rằng nguồn gốc trí tuệ của Kinh tế Cấu trúc mới của Lin không mới mẻ. Devarajan hoài nghi về tính độc đáo trong luận điểm của Lâm Nghị Phu, theo ông, đó là “ứng dụng tinh túy của kinh tế học tân cổ điển vào sự phát triển. Bởi vì kinh tế học tân cổ điển cho rằng thị trường sẽ hoạt động trừ khi có sự thất bại của thị trường, chẳng hạn như ngoại tác. Nếu có ngoại ứng thì chính phủ nên can thiệp để khắc phục ngoại ứng đó”.

Lâm Nghị Phu thừa nhận mình vẫn mắc kẹt trong kinh tế học tân cổ điển nhưng vẫn khẳng định rằng vai trò quan trọng và to lớn của chính phủ khiến lý thuyết của ông trở nên khác biệt. Cuốn sách mới khác của Nghị Phu, Cuộc truy cầu sự thịnh vượng, giải thích kinh tế học cấu trúc mới và phản ánh những bài học rút ra từ bốn năm làm việc tại Ngân hàng Thế giới. Bằng cách tuân theo khuôn khổ này, ông cho thấy ngay cả những quốc gia nghèo nhất cũng có thể tăng trưởng nhanh chóng trong vài thập kỷ, giảm nghèo đáng kể và trở thành quốc gia có thu nhập trung bình hoặc thậm chí cao chỉ sau một hoặc hai thế hệ.

Một số lời dạy của Nghị Phu có vẻ mang tính trực giác. Có vẻ hiển nhiên là các quốc gia nên phát huy thế mạnh của mình. Nhưng liệu với chỉ thị của ông rằng các nước tập trung vào lợi thế so sánh cơ bản của họ, có khuyến nghị Hàn Quốc tạo ra ngành công nghiệp đóng tàu vào những năm 1970 khi xét đến nguồn cung cấp nguyên liệu thô trong nước hạn chế như sắt, than và thép, cũng như sự thiếu hụt nguồn cung nguyên liệu thô trong nước. có kiến thức gì về lĩnh vực đó không? Một số nhà kinh tế khác nghi ngờ điều đó. Tuy nhiên, đó lại là công thức phát triển thành công của Hàn Quốc. “Với bản chất của quá trình tích lũy yếu tố và xây dựng năng lực công nghệ, một nền kinh tế lạc hậu không thể tích lũy năng lực trong các ngành mới mà không thách thức lợi thế so sánh và thực sự gia nhập ngành trước khi có được các yếu tố phù hợp” - Giáo sư Đại học Cambridge Ha-Joon Chang đã thách thức chính quan điểm có phần hời hợt của Lâm Nghị Phu