INTERNET – MỘT TRONG NHỮNG HẠ TẦNG VIỆT NAM CÓ THỂ TỰ HÀO
Nếu nhìn công bằng bằng số liệu quốc tế, Việt Nam chưa phải số 1 thế giới về Internet. Nhưng điều đáng chú ý là một quốc gia có thu nhập bình quân còn khá thấp lại đang sở hữu tốc độ Internet thuộc nhóm đầu, giá sử dụng cạnh tranh và tốc độ triển khai công nghệ mới rất nhanh.
1. TỐC ĐỘ: VIỆT NAM ĐÃ VÀO NHÓM ĐẦU THẾ GIỚI
Theo dữ liệu Ookla, đến tháng 9/2025 Việt Nam đứng khoảng 13 thế giới về Internet di động và 11 thế giới về Internet cố định. Đây là bước nhảy rất lớn nếu nhớ rằng đầu năm 2025 Internet cố định Việt Nam mới đứng thứ 34.
Nếu lấy cùng bộ số liệu H1/2025 để so ASEAN:
Internet di động: Singapore 138,3 Mbps, Malaysia 115,3, Việt Nam 102,3, Thái Lan 80,7, Campuchia 43,1 Mbps. Như vậy Việt Nam nhanh hơn Thái Lan khoảng 27%, hơn gấp đôi Campuchia và chỉ còn cách Malaysia khoảng 11%.
Internet cố định: Singapore 365,1 Mbps, Thái Lan 242,9, Việt Nam 195,4, Malaysia 143,9, Indonesia chỉ 34,9 Mbps. Việt Nam nhanh hơn Malaysia khoảng 36% và gấp hơn 5 lần Indonesia.
Đáng chú ý hơn là tốc độ tiếp tục tăng. Đầu 2026, hệ thống đo i-Speed của Việt Nam ghi nhận Internet cố định bình quân khoảng 257 Mbps, còn tốc độ 5G gần 595 Mbps.
Tức là xét riêng ASEAN, Việt Nam hiện không phải số 1 vì còn Singapore, Thái Lan hay Malaysia mạnh ở một số chỉ tiêu, nhưng rõ ràng đã nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực và Top đầu thế giới.
2. GIÁ: ĐÂY MỚI LÀ LỢI THẾ RẤT ĐÁNG NÓI
Internet nhanh ở Singapore không quá bất ngờ vì GDP/người của họ thuộc nhóm cao nhất thế giới.
Điều đặc biệt ở Việt Nam là thu nhập chưa cao nhưng người dân vẫn tiếp cận được Internet tốc độ rất cao với chi phí thấp.
Giá cước internet cố định trung bình tại Hàn Quốc dao động từ 30.000 đến 50.000 KRW mỗi tháng (khoảng 550.000 đến 920.000 VND). Giá cước internet cố định tại Đức trung bình dao động từ 30 đến 50 euro mỗi tháng (khoảng 800.000 đến 1.350.000 VNĐ) tùy thuộc vào tốc độ đường truyền và nhà mạng
Theo bộ dữ liệu giá ICT 2025 của ITU, giỏ Internet cố định tiêu chuẩn tại Việt Nam có giá khoảng 6,72 USD, trong khi mức bình quân thế giới khoảng 24 USD – tức mức giá danh nghĩa của Việt Nam chỉ khoảng 28% bình quân thế giới.
Với data di động 5 GB, chi phí tại Việt Nam tương đương khoảng 0,76% GNI bình quân đầu người hàng tháng. Con số này của Thái Lan khoảng 0,61% và Singapore chỉ 0,18%, nên không thể nói Việt Nam rẻ nhất khu vực; nhưng với một nền kinh tế có mức thu nhập thấp hơn rất nhiều, khả năng tiếp cận vẫn rất tốt.
Một cách so khác theo sức mua cho thấy giỏ dịch vụ di động sử dụng cao của Việt Nam khoảng PPP$13,1, chưa bằng một nửa mức bình quân thế giới khoảng PPP$26,8.
Đây mới là điểm mạnh: Việt Nam không chỉ có Internet nhanh, mà có tỷ lệ tốc độ/chi phí rất tốt.
3. 5G – 6G: VỊ THẾ NGƯỜI LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ
Đầu 2026, Việt Nam đã có hơn 40.000 trạm 5G, phủ khoảng 91,9% dân số và hơn 24 triệu thuê bao 5G. Theo Cục Viễn thông, nhiều nước phát triển cần 2–3 năm để đạt độ phủ trên 80%, trong khi tốc độ triển khai của Việt Nam thuộc nhóm nhanh hàng đầu thế giới.
Quan trọng hơn, khoảng 2.500 trạm 5G – trên 6% tổng số trạm – đã sử dụng thiết bị do Việt Nam sản xuất. Đây là bước chuyển rất khác về chất: không còn chỉ mua thiết bị nước ngoài về lắp mà bắt đầu tự nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa thiết bị mạng theo chuẩn quốc tế.
Một chi tiết rất đáng chú ý: Viettel đã triển khai 5G Private tại Thái Lan cho lĩnh vực quốc phòng. Trước đó, hệ thống 5G Private hoàn chỉnh của Viettel cũng đã được xuất khẩu sang Ấn Độ, và thiết bị 5G đã có hợp đồng, thử nghiệm tại UAE và Trung Đông.
Điều này có ý nghĩa lớn hơn một hợp đồng thương mại bình thường. 5G Private dùng trong quốc phòng đòi hỏi mức độ bảo mật, độ ổn định, độ trễ và khả năng làm chủ công nghệ rất cao. Việc một doanh nghiệp Thái Lan lựa chọn giải pháp của Việt Nam cho lĩnh vực này cho thấy công nghệ viễn thông Việt Nam đã bắt đầu có khả năng xuất khẩu ngược sang những thị trường ASEAN có nền viễn thông phát triển.
Còn 6G, trong khi thế giới vẫn đang xây dựng tiêu chuẩn thông qua 3GPP, Việt Nam đã thành lập Ban chỉ đạo 6G để doanh nghiệp, trường đại học và cơ quan quản lý tham gia từ sớm. Mục tiêu dài hạn là không chờ công nghệ hoàn thiện rồi mới nhập về, mà từng bước tham gia cả quá trình nghiên cứu và chuẩn hóa.
2G–3G: chủ yếu đi sau và mua công nghệ.
4G: bắt đầu tự nghiên cứu.
5G: đã tự sản xuất một phần thiết bị.
6G: muốn tham gia ngay từ giai đoạn công nghệ còn đang hình thành.
Đó mới là thứ mình thấy đáng tự hào.
Việt Nam chưa giàu như Singapore, chưa phải cường quốc công nghệ như Mỹ, Trung Quốc, nhưng đã xây được một hạ tầng Internet có tốc độ thuộc nhóm đầu thế giới với mức chi phí rất cạnh tranh.
Và trong nền kinh tế AI – Cloud – IoT – robot – nhà máy thông minh tương lai, Internet, 5G và 6G chính là “đường cao tốc số”. Việt Nam đang có một con đường khá tốt để bước vào cuộc chơi đó.